Thơ và đặc trưng của Thơ

Một số đồng nghiệp và học sinh yêu cầu tôi cung cấp thông tin về Thơ! (Thơ là gì? Đặc trưng của Thơ? Và phân tích Thơ như thế nào?...) Khó mà nói hết được! Tôi xin pots lên đây bài nghiên cứu này để các bạn và các em cùng tham khảo!

THƠ VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ


    
1.
Thơ là gì ?


 

Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại. Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại ở phương Đông cũng như ở phương Tây....Thế nhưng khi ta đặt ra và trả lời câu hỏi thơ là gì  thì câu hỏi này hoàn toàn không dễ trả lời. Khác với loại tác phẩm truyện kí kịch thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người mà tâm hồn con người là một thế giới tinh vi phức tạp mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhưng rất khó đúc kết khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh.


Từ xưa đến nay
tất cả mọi nền văn học đã có nhiều đầu óc thông thái đưa ra những định nghĩa về thơ. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào là duy nhất đúng.

Nhà lí luận phê bình văn học Lưu Hiệp quan niệm : "Thơ là để nói lên cái chí lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài. (...) Ở trong lòng thì gọi là chí nói ra lời thì gọi là thơ" [25 76] nhằm nhấn mạnh vào mục đích làm thơ.  Khi bàn về Kinh Thi một tuyển tập thơ ca dân gian cổ đại của Trung Quốc Khổng Tử nhấn mạnh đến khả năng bồi đắp năng lực ngôn luận cho con người của thơ: "Không học Kinh Thi lấy gì để nói". Ông đề cao tác dụng xã hội của thơ : "Thơ có thể làm phấn khởi ý chí có thể giúp quan sát phong tục hòa hợp với mọi người bày tỏ nỗi sầu oán gần thì thờ cha xa thì thờ vua lại biết được tên chim muông cây cỏ"[26; 25].

Nhà thơ lớn thời Trung Đường Bạch Cư Dị quan niệm: "Cảm hóa nhân tâm thì không gì bằng tình cảm. Và không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng thanh âm. Không gì sâu sắc bằng tư tưởng. Gốc của thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là thanh âm. Quả của thơ là tư tưởng"[26; 91]

 Nhà thơ lãng mạn Pháp Đuy- bê- lây ( thế kỉ XIII) quan niệm " Thơ là người thư kí trung thành của trái tim đa cảm". Nhà thơ A. Đơ Vinhi nhấn mạnh " Thơ là nhiệt tình được kết tinh lại".

Nhà lí luận phê bình người Nga Biêlinxki (thế kỉ XIX) cho rằng: Thơ là nghệ thuật là tài nghệ là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ nghĩa là thơ rốt cuộc phải được sáng tạo trong ngôn từ [Dẫn theo 3; 227]

Học giả Lê Quý Đôn cho rằng "làm thơ có ba điều  chính: một là tình hai là cảnh ba là sự .(...) Tình là người cảnh là tự nhiên sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy tình tham cảnh lấy cảnh hội việc gặp việc thì nói ra lời thành tiếng" [27; 99]. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh " Thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời trước trời đất. Thơ là tiếng hát của tình cảm thiết tha mãnh liệt...Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy. Bài thơ hay là bài thơ làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ mà chỉ thấy tình người...Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu". Nhà thơ Xuân Diệu cũng chung cảm nghĩ ấy khi viết "Thơ là tiếng gọi đàn là sự đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu"

Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của Valêri khi cho rằng "Thơ là sự phân vân giữa nhạc và ý" [20 ;30]. Nhà văn Nguyễn Tuân quan niệm "...thơ là ảnh là nhân ảnh thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la từ một điểm nhất định nó mở được ra một cái diện không gian thời gian trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp...Thơ là mở ra được một cái gì mà trước câu thơ đó trước nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín"[25; 172].

Trong bài Tựa tự viết cho tập thơ của mình nhà thơ Sóng Hồng đã đưa ra những định nghĩa rất sâu sắc và toàn diện về thơ : "Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp". Thơ là thơ đồng thời là vẽ là nhạc là chạm khắc theo cách riêng  "Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trí tưởng tượng". Thơ là tình cảm và lí trí kết hơp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên một nhạc điệu khác thường" .   " Thơ là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời". ‘ Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân" [ chuyển dẫn theo 29; 43].

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc góp vào lĩnh vực này  một định nghĩa rất đáng chú ý       "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ này"[13; 6]

Theo Đỗ Đức Hiểu xét về thi pháp   có thể đúc kết đặc trưng thơ thành một số đặc điểm chủ yếu:

          - Kết cấu trùng điệp

          - Kiến trúc đầy âm vang

- Chất nhạc tràn đầy

 [ theo 14; 19]


Như vậy có rất nhiều câu trả lời khác nhau cho câu hỏi thơ là gì tùy thuộc vào kinh nghiệm tùy thuộc vào giác độ của từng nhà thơ từng nhà nghiên cứu. Tuy khác nhau nhưng hầu hết các nhà thơ cũng như các nhà nghiên cứu  phê bình đều thống nhất ở thơ có hai đặc điểm quan trọng sau đây:

•·         Thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc nỗi lòng suy  nghĩ của tác giả: tức là khẳng định  thơ thuộc phương thức trữ tình đồng thời nhấn mạnh vai trò của cảm xúc và khả năng tạo nên sức đồng cảm mạnh mẽ đối với người đọc của thơ .

•·        Thơ có một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt .


Có thể phát biểu một cách ngắn gọn: Thơ là một loại hình văn học tồn tại bên cạnh truyện và kịch là hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn từ đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính giàu hình ảnh và gợi cảm 


     
     2:  Những đặc trưng cơ bản của thơ :

     2.1 - Nhân vật trữ tình ( chủ thể trữ tình ) - Chủ thể phát ngôn trong thơ

Lời văn trong truyện- kí đều có chung một đặc tính là lấy việc mô tả kể lại những câu chuyện những sự việc diễn ra trong cuộc sống xã hội làm chính. Cảm nghĩ thái độ cách đánh giá của nhà văn thường giấu kín trong bản thân câu chuyện chứ không được làm nổi bật lên chiếm vị trí chủ đạo thành đối tượng thưởng thức trực tiếp của người đọc.

Lời thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư là tiếng nói tha thiết của tâm hồn tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim của nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình) . Phát ngôn thơ - lời thơ - do vậy không lấy chức năng thông báo làm chính mà chủ yếu là hướng đến chức năng biểu hiện . Đó có thể là những nỗi niềm riêng tư về hạnh phúc lứa đôi về tình yêu tan vỡ; niềm vui gặp gỡ ; nỗi buồn chia li. Đó cũng có thể là  những cảm xúc những suy tư về nhân tình thế thái về số phận con người thăng trầm của xã hội những cảm xúc về Tổ quốc đất nước dân tộc nhân loại.

Tâm hồn nhà thơ như một chiếc cần ăngten thu nhận tất thảy những tín hiệu buồn vui của con người là chiếc "bình thu hợp trí muôn phương" ( Xuân Diệu) . Muốn chinh phục được tâm hồn của độc giả trước hết cảm xúc của nhà thơ phải chân thành ; niềm yêu ghét của nhà thơ phải xuất phát từ chính trái tim nhạy cảm thành thực của mình .Thật vậy bài thơ được viết ra khó làm cho ai xúc động nếu như  nhà thơ không thật sự "đau đớn lòng" "trước những điều trông thấy"   . Người đương thời đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du tưởng như có "nước mắt thấm  trên tờ giấy máu rỏ ở đầu ngọn bút" trước hết chính là vì lí do đó.


          Cảm xúc của nhà thơ phải ở mức độ mãnh liệt dồi dào nồng cháy.  Mỗi khi có điều gì chất chứa trong lòng  không nói ra không chịu được lúc đó là thi sĩ tìm đến thơ để giải tỏa nổi chất chứa ám ảnh đó  ( theo Tố Hữu)

Vì cảm xúc là yếu tố hàng đầu của thơ nên mọi nhà thơ đều rất coi trọng cảm hứng sáng tạo. Cảm hứng làm cho nhà thơ có thể lóe sáng được những ý nghĩ mới lạ chắp cánh cho trí tưởng tượng của nhà thơ bay bổng hình thành một cách xuất thần những lời đẹp tứ hay. Ngoài cái lớn lao của cuộc đời thực thơ cũng tìm đến thế giới của ước mơ và mộng tưởng. Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận đến nhiều phạm vi rộng rãi hơn bao la hơn của hôm qua hôm nay và ngày mai của cái có thật và cái có thể có và nên có của cái ta đang sống và cái mà mọi người mong ước. Thơ mở rộng biên độ sống của con người!

Một đêm tháng 4/1948 tại Việt Bắc được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hương mình Hoàng Cầm xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ "Bên kia sông Đuống" một trong những bài thơ hay nhất của ông là "chứng minh thư" để ông đi vào ngôi vị những nhà thơ sống mãi trong lòng bạn đọc.

      

Cảm xúc của nhà thơ đồng thời lại phải có tính tiêu biểu điển hình. Cảm xúc trong thơ nhất định là của một con người - cá nhân trong hoàn cảnh cụ thể nhưng đồng thời nó  không đóng kín khép lại cho riêng nhà thơ mà cảm xúc đó còn là sự đại diện phát ngôn cho tâm tình suy nghĩ của nhiều người .Vichto  Hugô từng cho rằng   "Lm lẫn thay nếu  anh tưởng tôi không phải là anh". Cảm xúc thơ càng có tính tiêu biểu điển hình thì càng tạo nên sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại :

             Nỗi lòng của Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Xuân Hương do đâu mà dễ dàng tìm được sự tri âm của nhiều thế hệ độc giả ngay cả với các thế hệ hiện diện trên cõi đời này sau họ nhiều thế kỉ? Thơ từ xưa đến nay dù là thơ tỏ lòng tỏ chí  thì thơ vẫn là tiếng lòng chung của nhiều cá nhân thế hệ...Vì thơ là cái chủ quan cưu mang được những nỗi niềm thời đại nên ở đời mới có những người tự nhận là tri âm của thơ. Cái " Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều /Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn." của Xuân Diệu trong thời Thơ Mới cũng là tâm trạng chung của một lớp trẻ trong hoàn cảnh xã hội bấy giờ. Huy Cận gọi đó là nỗi buồn thế hệ trong thơ Mới

Khi đề cao yếu tố cảm xúc không có nghĩa là phủ nhận yếu tố trí tuệ trong thơ. Trí tuệ  rất cần cho mọi loại hình nghệ thuật  "Thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữ cảm xúc và trí tuệ" ( Sóng Hồng). Chất suy nghĩ trong một bài thơ bộc lộ ở cách đặt vấn đề của tác giả ở  cấu tứ chung ở những lập ý và suy tưởng ở những liên tưởng và ở cả những cảm xúc và hình ảnh cụ thể. Nhà thơ Xuân Diệu quan niệm: " Nhà thơ hay hay bằng tư tưởng bằng tình cảm bằng chí khí bằng tính tình nhưng tất cả những cái ấy phải thông qua xúc cảm cảm giác;...Cho nên một thi sĩ có tư tưởng tình cảm rồi thì phải chứng tỏ cái bản lĩnh của mình trong xúc cảm cảm giác hình tượng"( Và cây đời mãi mãi xanh tươi- NXB Văn học H 1971 trang273) Nhấn mạnh quan hệ biện chứng giữa cảm xúc và lí trí trong thơ một nhà thơ Pháp đã khuyên "Hãy học suy nghĩ bằng trái tim và học rung động bằng khối óc". Viên Mai (1716-1797) một nhà thơ nhà lí luận phê bình thơ nổi tiếng đời Thanh (Trung Quốc) nhấn mạnh thơ phải có chất suy nghĩ sâu xa " thơ có thịt mà không có xương là con sâu mùa hè vậy" Điều nói ra trong thơ phải sâu sắc nhưng phải thật nhuần nhuyễn không làm căng đầu óc giảm sức đồng vọng của người nghe. "Cái suy nghĩ được mặc dù khổ đắng nhưng nói ra phải ngọt ngào. Cái nói ra có thể bất ngờ với người khác nhưng vẫn đọng lại trong ý của họ".

 Nhân vật trữ tình gắn liền với cái tôi trữ tình của tác giả .Nhân vật trữ tình chính là một cách biểu hiện nghệ thuật cái tôi của tác giả nhưng nhân vật trữ tình chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với tác giả . Thống nhất vì qua tác phẩm người đọc nhận ra niềm vui nỗi buồn khát vọng lí tưởng của tác giả được ẩn chứa nơi cảm xúc cái nhìn của nhân vật trữ tình nhưng không đồng nhất vì nhân vật trữ tình là một hình tượng nghệ thuật do tác giả sáng tạo ra còn tác giả lại chính là con người có thực ngoài cuộc đời. Cùng một tác giả do vậy có thể có nhiều nhân vật trữ tình khác nhau trong toàn bộ sáng tác của mình.

Nhân vật trữ tình thường được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau:

_  Có danh xưng rõ ràng : tôi ta anh em ...  Khi nhân vật trữ tình trong thơ phát ngôn cho tác giả thực chất là sự " độc bạch" của nhà thơ":

" Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim"

( Tố Hữu- Từ ấy)

 _  Không trực tiếp xưng danh : lúc này nhân vật trữ tình được nhận biết qua cách bộc lộ cảm xúc cách quan sát nhận xét về những điều được nói đến trong bài thơ. Thơ trữ tình trung đại thường sử dụng cách thể hiện này. Không trực tiếp xưng danh lời thơ dễ trở thành tiếng lòng chung của nhiều cá thể trong những hoàn cảnh tương tự:

                   " Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi  tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

( Bà huyện Thanh Quan- Qua đèo Ngang)

         

   _  Nhân vật trữ tình nhập vai là nhân vật trữ tình không còn đứng ở vai ‘ tác giả" nữa mà đã hoá thân vào một nhân vật khác để bộc lộ cảm xúc ( NHỚ RỪNG-  Thế Lữ; LỜI KĨ NỮ - Xuân Diệu; PHÁ ĐƯờNG - Tố Hữu)


 Xuân Diệu trong Lời kĩ nữ ngoài lòng thương còn có tình tri âm tri kỉ nên nhà thơ nhập thân rất sâu vào người kĩ nữ một con người tài tình cô đơn cố van nài níu kéo người tri kỉ:

Khách ngồi lại cùng em trong chốc  nữa

 Vội vàng chi trăng sáng quá khách ơi

(...) Khách ngồi lại cùng em; đây gối lả

 Tay em đây mời khách ngả đầu say.

 Đây rượu nồng . Và hồn của em đây

 Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử

       Các hình thức xuất  hiện của nhân vật trữ tình có thể thay đổi xen kẽ nhau trong bài thơ

       

 Người thưởng thơ cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình là con người  được miêu tả thể hiện trong bài thơ . Ví dụ trong bài  TỲ BÀ HÀNH  nhân vật trữ tình là "Giang Châu Tư mã " ; nhân vật trong bài thơ là người phụ nữ gảy đàn tỳ bà .Trong Núi đôi nhân vật trữ tình là "Anh" nhân vật trong thơ trữ tình là "Em"

       

 Người thưởng thơ cũng cần biết đến sự khác biệt giữa nhân vật trong tác phẩm truyện và nhân vật trong tác phẩm thơ- ở chỗ truyện thường chú ý mô tả nhân vật một cách đầy đặn trên nhiều bình diện và vận động theo sự vận động phát triển của cốt truyện ( xuất thân hoàn cảnh sống  ngoại hình lời nói hành động  ý nghĩ nội tâm quan hệ với nhân vật khác) ; còn trong thơ nhân vật trữ tình lại thường không cần miêu tả đầy đủ như thế nhiều khi chỉ cần thể hiện một khoảnh khắc hé mở một nỗi niềm

 

2. 2-  Đặc điểm lời thơ

Trữ tình là phương thức sáng tạo văn học tiêu biểu nhất cho thơ nhưng nó không phải chỉ có trong thơ. Trữ tình còn có mặt trong các loại văn xuôi khác như trong văn tùy bút. . Để là thơ ngoài yếu tố trực tiếp bộc lộ cảm xúc của cái tôi tữ tình còn cần thêm một yếu tố nữa: Là sự diễn đạt nội dung trữ tình bằng một kiểu lời nói đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính giàu hình ảnh   mang tính chất gợi cảm cao độ thường gọi là lời thơ

Do chỗ trữ tình là sự thổ lộ những cảm nghĩ rung động của con người trước thế giới nên lời thơ phải hết sức gợi cảm. Tính chất gợi cảm như là đặc điểm chung của ngôn từ văn chương bộc lộ tập trung nhất trong thơ. Có thể hình dung ngôn từ chung như bước đi hằng ngày ( mục đích chính là để chuyển chỗ) ngôn từ trong thơ như bước đi trong múa ( mục đích chính là biểu hiện tâm hồn cảm xúc giàu khả năng tác động thẩm mĩ). Từ cách dùng chữ đến cách đặt câu dựng khổ đoạn ... tất cả đều được cân nhắc sao cho mỗi tiếng mỗi từ mỗi câu mỗi dòng mỗi khổ đoạn có thể tạo ra một không khí tình cảm truyền tải  một cảm xúc mạnh mẽ tác động sâu sắc đến người đọc. Tính chất gợi cảm của lời thơ được bộc lộ ở hai đặc điểm : giàu nhạc điệu và tính hình tượng .

Ý kiến của GS Phan Ngọc chính là sự nhấn mạnh về phương diện thi pháp của thơ:   "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để buộc người tiếp nhận phải nhớ phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ của nó".

Tiếp thu thành tựu của các ngành khoa học hiện đại thi pháp học thế kỉ XX đã đi tìm những đặc thù cơ bản của thơ ở giác độ tổ chức kết cấu trong văn bản ngôn từ. Và như một hệ quả tất yếu tìm hiểu thơ trên giác độ này người thẩm thơ giảng thơ không thể không được trang bị một vốn liếng ngôn ngữ học dày dặn để chỉ ra cho được cái đặc trưng "cái lí của hình thức thơ".

Trên một quan điểm toàn diện thi pháp học Macxit một mặt nghiên cứu cấu trúc hình thức của văn bản ngôn từ nhưng không chỉ xét cô lập trong cấu trúc nội tại của chúng mà phải xét trong mối tương quan với những yếu tố khác ngoài văn bản- mà yếu tố trực tiếp bộc lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình nói bên trên là một trọng điểm.

Trong giới hạn của một tiểu luận thuộc chuyên đề Ngôn ngữ học và văn học chúng tôi đặc biệt đi sâu vào đặc trưng cấu trúc văn bản ngôn từ của thơ


2.2.1- Nhạc
điệu của lời thơ.  Từ nguồn gốc xa xưa của mình lời thơ vốn là chuỗi lời nói được sáng tác ra để hát hoặc ngâm lên có thể được các nhạc cụ đệm theo. Thơ với nhạc gần nhau là vì vậy. Chất nhạc trong lời thơ thể hiện qua luật thơ âm điệunhịp điệu của nó:


 2. 2.1.1/ Luật thơ: "Luật thơ là những quy tắc yêu cầu sự kết cấu và phối hợp âm thanh trong từng câu thơ và trong cả bài thơ. Luật thơ cũng bao gồm cả yêu cầu về vần về đối về niêm và trong một số thể thơ còn yêu cầu cả về trình tự bố cục nội dung nữa" [29;56]. Luật thơ như vậy là rộng hơn cái khuôn ngữ âm mà văn bản thơ phải tuân thủ là cái nền để tạo ra âm điệu nhạc điệu thơ. Mỗi thể thơ có luật thơ riêng. Có thể thơ được hình thành và hoàn thiện cố định hóa thông qua thực tiễn sáng tác của các thế hệ người Việt Nam. Có thể thơ người Việt Nam ta vay mượn từ văn học Trung Quốc. Luật thơ một yếu tố nằm trong cả một hệ thống thi pháp phức tạp.

Nếu không đi vào chi tiết ta có thể hình dung các luật thơ đã từng được sử dụng nhiều trong thơ ca Việt Nam cả thơ ca dân gian và thơ ca bác học theo bảng kê sau đây:

Dạng thức chung

Thể thơ

Sự thể hiện trong thực tiễn sáng tác

qua các giai đoạn Văn học

Thơ ca dân gian

Thơ trung đại

Thơ hiện đại

Không kết hợp

4 tiếng

Đồng dao

0

0

5 tiếng

Hát dặm ( Nghệ - Tĩnh)

Ngũ ngôn tứ tuyệt

Ngũ ngôn bát cú

Ngũ ngôn trường thiên

Thơ 5 tiếng

6 tiếng

0

0

Thơ 6 tiếng

7 tiếng

0

Thất ngôn tứ tuyệt

Thất ngôn bát cú

Thất ngôn trường thiên

Thơ 7 tiếng

8 tiếng

0

0

Thơ 8 tiếng

Kết hợp

6-8

Ca dao

Diễn ca lịch sử

Truyện thơ

Thơ lục bát

7-7-6-8

hoặc

6-8-7-7

Ca dao

Ngâm khúc

Thơ song thất lục bát

Phức hợp

0

Hát nói

Thơ tự do


[ theo 13 161
]

Nếu như ngạn ngữ có câu " Chiếc áo không làm nên thầy tu" thì bản thân thể thơ chưa có thể tạo ra  thơ   nhiều lắm cũng chỉ tạo ra một chuỗi lời nói có vần vè mà thôi. Chẳng hạn mấy trường hợp sau đây tuy tuân thủ luật thơ lục bát nhưng tuyệt đối không thể nhập tịch vào vương quốc thơ:

•-         Con mèo con mỉu có lông

Cây tre có mắt xương rồng có gai

                   ( Đồng dao cổ)    &

Duy

Cháo anh Triều!
DDaxguwir lời chúc qua email anh! sa ve rồi nghe nhé!

Đinh Hà Triều

Giao thừa Mậu Tý-Kỷ Sửu

Giao thừa cất bút đề thơ
Mà sao tâm thức lơ mơ thế nào
Nói gì đến chuyện thôi xao ..
***
Bỗng nghe tiếng cuốc vọng vào niềm riêng

nhacsicodon

Càng đọc càng thấy thích anh LBD àh. Mình kô được giỏi văn chương nên cố gắng học nơi anh qua những bài viết trên. Thx anh

nhacsicodon

Chào LBD.

Nhà thơ lớn thời Trung Đường Bạch Cư Dị quan niệm: "Cảm hóa nhân tâm thì không gì bằng tình cảm. Và không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng thanh âm. Không gì sâu sắc bằng tư tưởng. Gốc của thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là thanh âm. Quả của thơ là tư tưởng"[26; 91]

Một bài viết rất bổ ích . Cảm ơn anh nhiều lắm.
Thân mến

ductien

Lời cảm

Một bài viết thật bổ ích nhưng dài quá Bá Duy ơi ! Cảm ơn Duy đã cho bạn đọc học thêm đôi điều về thơ để tránh viết thơ mà đọc không phải thơ !

LBD

Nhìn một cách bao quát có thể thấy cảm hứng của nhà thơ hiện lên qua chữ nghĩa hình ảnh vần điệu giọng điệu…Nói một cách hình ảnh hơn nó phải nổi sóng qua chữ. Vậy xét đến cùng cái gốc của tính nhạc tính hình ảnh trong thơ là nhạc điệu sự xúc cảm mãnh liệt của tâm hồn trước cuộc đời. Hơn đâu hết trong lĩnh vực thơ ca câu chữ chỉ có thể cất cánh khi cảm hứng thật tràn đầy. Mà xét đến cùng lõi cốt của cảm hứng là tư tưởng là quan niệm nghệ thuật của nhà thơ về thế giới. Vì thế thích một bài thơ theo cách nghĩ của Hoài Thanh “ trước hết là thích một cách nhìn một cách nghĩ một cách xúc cảm một cách nói nghĩa là trước hết là thích một con người”
3- Phân tích ứng dụng:
Để hình dung sự vận dụng tổng hợp vốn liếng tri thức đời sống văn học ngôn ngữ học cùng với khả năng nhạy cảm của con người trong lao động thẩm thụ và giảng dạy thơ như thế nào chúng tôi xin dẫn ra đây một đoạn phân tích tính nhạc khổ thơ đầu bài Em ơi Ba Lan của nhà thơ Tố Hữu:
“Em ơi! Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Anh đi nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm một giọng đàn.
Đoạn thơ này mở đầu cho bài thơ ca ngợi đất nước Ba Lan anh em. Nhân vật trữ tình (anh) hình dung Ba Lan như một người em gái (nhân vật trong thơ trữ tình) đang cùng đi với mình trên những nẻo đường của mùa xuân và cả bài thơ là lời của nhân vật trữ tình nói với người em gái ấy . Hình ảnh mở đầu là hình ảnh mùa xuân ( mùa tuyết tan sương trắng nắng tràn.v.v..). Trên con đường mùa xuân đó nhân vật trữ tình như đang dắt tay người em gái cùng đi và bên tai nghe văng vẳng tiếng thơ của A đam tiếng đàn của Sô panh dường như tiếng tâm hồn của dân tộc Ba Lan từ xưa vọng lại. Cả bốn câu thơ gợi lên không khí tươi vui ấm áp thanh thản mênh mông trên một đất nước châu Âu. Lời thơ không nhắc đến một tiếng “ xuân” nào nhưng người đọc nhận ra đây là mùa xuân. Lời thơ cũng không miêu tả hình ảnh người em gái ( vì thực ra đây có phải là một người con gái cụ thể có thật nào đâu đây chỉ là một hình ảnh tượng trưng). Qua những tiếng xưng hô “anh” “em” lời thơ cũng gợi lên tình cảm yêu thương trìu mến giữa nhân vật trữ tình với đất nước bạn bè mới gặp gỡ lần đầu mà đã yêu thân và hiểu biết tựa hồ quê hương của mình vậy.
Khổ thơ dồi dào tính nhạc không phải vì khổ thơ có nhắc đến giọng đàn của Sô panh. Nhạc ở đây là nhạc của thơ nhạc của những âm những thanh những vần những nhịp như ngân nga hòa điệu cùng nhau nâng cao hình tượng mùa xuân trên đôi cánh nhạc. Hai câu thơ đầu khổ thật bay bổng thanh thoát nhẹ nhàng vì phần lớn các tiếng đều mang thanh bằng ( em ơi Ba Lan mùa tan đường dương sương) hoặc thanh trắc cao ( tuyết trắng nắng). Hai câu sau có 5 thanh trắc thấp ( vọng một giọng một giọng) thì gộp thành hai tổ hợp điệp vần điệp tiếng như mấy nốt trầm giữa một giai điệu cao chung.
Nhạc điệu du dương ngân nga của đoạn thơ nảy sinh ra do một yếu tố quan trọng này nữa: đó là sự hiệp vần giữa các tiếng trong từng câu hoặc giữa các câu. Khổ thơ có dáng dấp của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Theo lệ thường bốn câu chỉ cần ba vần hiệp với nhau ở cuối câu 1 2 và 4 (tan tràn đàn) thậm chí chỉ cần hai vần ở cuối hai câu chẵn cũng đủ. Nhưng nhà thơ Tố Hữu ngoài các vần bắt buộc nói trên còn gieo một loạt vần khác nữa trong từng câu hoặc nối các câu với nhau:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Lan với tan đường với dương- sương trắng với nắng chỉ có 14 tiếng mà hiệp vần nhiều đến chừng ấy. Thế nên các tiếng như xoắn quyện lấy nhau
Nhạc của đoạn thơ còn được sinh ra từ sự phối hợp của các nguyên âm đặc biệt là nguyên âm a ở câu thơ đầu và các phụ âm đặc biệt là các phụ âm t- ; tr- ở câu thứ hai
Như trên có nói khổ thơ có mẫu thể loại thất ngôn tứ tuyệt nhưng Tố Hữu đã phá bỏ mọi niêm luật cổ điển để cho dòng suối âm thanh tràn vào các câu thơ.Ví dụ như trong câu thơ đầu nhà thơ đã dùng cả 3 tiếng có thanh bằng ở vào vị trí tiếng thứ hai bốn sáu. Chỗ phá luật ở đây là tiếng thứ hai ( lẽ ra là trắc nhà thơ lại dùng tiếng mang thanh bằng – ơi) nhưng dùng như vậy lại làm cho âm điệu câu thơ nhẹ nhàng hơn. Nhà thơ cũng phá bỏ cả niêm. Vì theo đúng niêm thì câu thứ ba phải phối thanh ngược lại (là T-B-T ở các vị trí 2-4-6) . Nhưng một lần nữa nhà thơ đã chú trọng âm thanh hơn niêm luật.
Về cách ngắt nhịp khổ thơ cũng có sự phá cách theo tinh thần sáng tạo. Các câu 1 3 4 ngắt theo nhịp bình thường của thơ thất ngôn (2/2/3). Nhưng câu 3 lại đổi sang nhịp (3/2/2) gần gũi với mô hình thơ song thất lục bát.
Đường bạch dương /sương trắng /nắng tràn.
Trên đây mới chỉ khảo sát tương đối tỉ mỉ một khổ thơ đầu nếu xét toàn bài các yếu tố thuộc cấu trúc văn bản tạo nên nhạc tính thơ sẽ còn biến hóa nhiều vẻ nữa.
Từ sự phân tích trên ta có thể thấy một vấn đề có tính chất khái quát: Hình tượng thơ hình thành trong một văn bản ngôn từ đặc biệt được cách điệu hóa khác với ngôn từ văn xuôi ngôn từ nhật dụng. Cấu trúc ngôn từ đó làm cho lời thơ vừa lắng đọng vừa ngân vang làm cho hình tượng thơ không chỉ có hình mà còn có nhạc nói đúng hơn là sự hòa quyện giữa hình ý và nhạc. Hình ý của thơ do ý nghĩa của từ của ngữ của câu tạo nên nhạc của thơ tạo nên từ âm thanh của từng tiếng sự phối hợp hòa âm giữa chúng. Hình của thơ gợi mở nhạc thơ ngân nga. Hai yếu tố này quyện vào nhau cùng tác động để ý thơ thấm sâu vào tâm hồn người đọc. Do vậy nên người ta thường nói hình tượng thơ chính là hình tượng được xây dựng trên chất liệu ngôn từ có tính tổng hợp nhất tập trung nhất toàn diện nhất. ( Theo gợi ý của GS Trần Thanh Đạm) [ 29; 52-53]

LBD

PGS Đinh Trọng Lạc lưu ý và phân tích rất hay về giá trị của ẩn dụ. Ông viết: “ Phân tích những trường hợp chuyển nghĩa cần xuất phát từ nghĩa gốc của từ trên cơ sở đó hiểu cái chính xác cái hay của từ chuyển nghĩa. Giảng câu thơ của Tố Hữu:
Xuân ơi xuân em mới đến dăm năm
Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội
mà chỉ nói xuân ở đây là chủ nghĩa xã hội thì chưa đủ. Cho dù giáo viên có liên hệ tới câu nói của P.V Cu- tuy- vi- ê”: “ Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại” thì cũng chưa nêu bật lên hết cái hay của cách nói ẩn dụ này. Như ta đã biết các nghĩa của từ đều có quan hệ với nhau nghĩa chính sẽ chi phối các nghĩa khác giữa các nghĩa có thể do mối quan hệ đồng dạng hoặc tiếp cận mà có những nét giống nhau hoặc gần nhau. Đó là do tính hệ thống có trong toàn bộ vốn từ vựng và có trong nội bộ một từ. Do đó cần phải lập lại mối quan hệ giữa nghĩa của ‘ xuân” trong câu thơ trên với nghĩa chính mà những nghĩa thường thấy là:1: mùa xuân; 2: tuổi trẻ...Mùa xuân tuổi trẻ..đều có chung một nét thường trực trong đầu óc người Việt Nam đều chỉ một cái gì tươi trẻ đẹp đẽ có sức sống mãnh liệt. Dùng “ xuân” để chỉ chủ nghĩa xã hội là một lối nói ẩn dụ rất hay vì nó nêu bật lên cái tươi đẹp trẻ trung đầy sức sống của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa gọi “ Xuân ơi xuân” và “ em mới đến dăm năm” là coi xuân như một con người là dùng phương pháp nhân cách hóa thì lại nêu bật được cái cảm tình trìu mến thiết tha yêu quý của nhà thơ của chúng ta đối với chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng ở miền Bắc”[30; 123-124]
Ngoài ra để xây dựng hình ảnh thơ các tác giả còn sử dụng nhiều biện pháp tu từ khác nữa.. Với thơ lời ( văn bản ngôn từ) hữu hạn mà ý vô cùng điều này tạo ra độ chênh giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt gắn liền với hàng loạt những mối liên hệ ngoài văn bản liên văn bản tùy thuộc vào cách thức giải mã của chủ thể tiếp nhận.Chúng góp phần tạo nên sức truyền cảm và tính chất phong phú bóng bẩy hàm súc của thơ.
Nhiệm vụ của thi pháp học là phải giải mã các văn bản làm “ nổ tung” các văn bản ngôn từ để tìm hiểu những ý nghĩa hàm ẩn bên trong và ở đằng sau những cấu trúc nghệ thuật bằng ngôn từ. Không phải bỗng dưng mà nhiều nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của phương Tây quan niệm thi pháp học gắn với ngôn ngữ học và kí hiệu học.
Bởi vì xét ở góc độ kí hiệu học thì mỗi văn bản nghệ thuật ngôn từ là một hệ thống kí hiệu nhằm biểu đạt một nội dung nào đó. Nhưng quan hệ giữa kí hiệu và thông báo – tức quan hệ giữa âm và nghĩa giữa hệ thống kí hiệu và hệ thống hình tượng không bao giờ trùng khít. Vì một bên là phương tiện vật chất mang tính ổn định khá cao một số lượng hữu hạn theo nguyên tắc tiết kiệm ngôn ngữ một bên mang tính nội dung biến hóa bất ngờ. Có phân tích được mối liên tưởng về nghĩa của từ thì mới nhận thấy nét độc đáo và công phu sáng tạo của người nghệ sĩ. Các biện pháp chuyển nghĩa cộng với sự tỉnh lược tối đa các thành phần trong lời thơ như đã nói ở phần trên đã làm cho nội dung ngữ nghĩa của lời thơ trở nên mơ hồ nhiều khi không xác định . Người tiếp nhận phải lựa chọn tưởng tượng liên tưởng mới có thể giải mã và cảm thụ tối đa vẻ đẹp của nó. ‘ Thơ có một chữ mà nghĩ ba năm mới có được giảng ngàn năm chưa xong” (Nguyễn Cư Trinh) [27; 49 ] là vì thế
Thực ra khái niệm hình tượng mà ta quen dùng để chỉ đặc trưng trong phương thức phản ánh của nghệ thuật theo nhiều nhà nghiên cứu đã bao hàm tính chất so sánh ẩn dụ ước lệ tượng trưng. Do vậy “bản thân hình tượng luôn bao hàm hai phạm trù khác nhau: trong so sánh có cái dùng để so sánh có cái được dùng để so sánh; trong ẩn dụ nghĩa bóng của nó luôn có cơ sở từ nghĩa gốc trong tượng trưng có nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn” [ 14;26].

LBD

Với cặp sóng - bờ người nữ đã giành thế chủ động trong biểu hiện tình cảm:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được.
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
( Xuân Quỳnh – Sóng)
Điều đó cho ta thấy người phụ nữ thời kháng chiến chống Mĩ đâu còn mang tính chất bị phụ thuộc thụ động trong quan hệ tình yêu như người thôn nữ trong ca dao xưa:
“ Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Còn khi Chế Lan Viên viết:
Buổi sáng em xa chi
Cho chiều mùa thu đến
Để lòng anh hóa bến
Nghe thuyền en ra đi
( Lòng anh làm bến thu)
thì vị trí bến / thuyền đã đảo ngược hẳn với ca dao xưa. Khi đó người đọc sẽ có một liên tưởng liên văn bản để thấu hiểu nỗi niềm tâm sự tình cảm trân trọng của người chồng khi người phụ nữ người vợ người mẹ thời đại bấy giờ cũng dấn thân vào công tác xã hội mà ở đây lại là thời chiến.
Bài Thương vợ của Trần Tế Xương có sử dụng hình ảnh thân cò. Con cò trong ca dao chủ yếu nói về người phụ nữ nông dân – lớp người dưới đáy đáng thương của xã hội. Với Tú Xương ‘ thương” gắn với nể phục đề cao trân trọng

- Nếu liên tưởng dựa trên các mối quan hệ gần gũi trong thực tế của các đối tượng ta có phép hoán dụ: Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
( Tố Hữu – Việt Bắc)
- Những cách chuyển nghĩa trên nếu sử dụng nhiều lần đã thành một cách nói ước lệ lúc đó chúng được coi là những hình ảnh tượng trưng. Ví dụ con cò là hình ảnh tượng trưng cho người phụ nữ tần tảo vất vả… cây tùng thể hiện khí tiết thanh cao cứng cỏi của người quân tử mặt trời tượng trưng cho cách mạng ...
Ẩn dụ và hoán dụ không chỉ đơn thuần là mượn tên gọi mà là “được thực hiện bằng cách mượn cả tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên bao gồm cả “ cái biểu đạt và “ cái được biểu đạt” đã chìm sâu vào cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ như một cái hợp thể không thể tách rời để biểu thị một nội dung ý nghĩa mới nếu như giữa hai vật đem so sánh có một nét đồng dạng nào đó về ngữ nghĩa” [19; 114]. Ý kiến sau đây của nhà thơ Tố Hữu sẽ giúp ta minh định điều đó: “ Tuy đồng bào ta mặc áo chàm nhiều và có thể mặc để tiễn cán bộ cách mạng nhưng áo chàm ở đây mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Màu chàm nâu trong tâm thức của người Việt là một màu đơn sơ chân thực không kiểu cách lòe loẹt. Nó biểu hiện sự chân thành đến giản dị. Hơn nữa ở đây cả khách thể lẫn chủ thể đều hòa chung làm một nên áo chàm là biểu tượng cho tấm lòng chung của mọi người” [16; 152]. Cắt nghĩa của nhà thơ hoàn toàn phù hợp với cảm hứng về màu chàm màu nâu trong suốt bài thơ Việt Bắc:
“ Mình về ta gửi về quê
Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai
Nâu này nhuộm áo không phai
Cho lòng thêm đậm cho ai nhớ mình
(...) Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Chàm nâu thêm đậm phấn son chẳng nhòa

LBD

2.2.2.3- Các hình thể từ ngữ cơ bản của lời thơ:
Để xây dựng hình ảnh có giá trị như những mã thẩm mĩ ngoài tài quan sát nhà thơ còn phải biết đặt cảm xúc của mình chan hòa với đối tượng vì thế hình ảnh thơ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhưng hình ảnh thơ không phải là loại hình ảnh vật thể như hội họa điêu khắc kiến trúc nhiếp ảnh điện ảnh... Hình ảnh thơ là thứ hình ảnh phi vật thể được xây dựng trên chất liệu ngôn từ nghệ thuật. Tức là hình ảnh đó phải được nhà thơ mã hóa và chuyển thành các tín hiệu ngôn ngữ dưới một dạng thức nào đó. Người đọc thơ sau khi tiếp nhận tín hiệu cần phải giải mã những gì tiếp nhận được để hiểu được thông điệp thẩm mĩ chứa đựng trong đó. Các biện pháp tu từ vì vậy góp phần lớn trong việc tạo ra các loại mã – thẩm mĩ này. Đó thật sự là lí do tại sao lời thơ xuất hiện đậm đặc các biện pháp chuyển nghĩa dựa trên trường liên tưởng.
- Liên tưởng đến nét tương đồng giữa các đối tượng dẫn đến phép so sánh ẩn dụ nhân hóa tượng trưng
Hãy lấy một ví dụ về tác dụng của phép so sánh từ bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa ( so sánh)
( Chế Lan Viên- Tiếng hát con tàu)
Ý thơ được xây dựng năm qua hình ảnh so sánh liên tiếp. Chuỗi so sánh thể hiện cường độ cảm xúc mạnh mẽ hạnh phúc như xoè nở trong tâm hồn rưng rưng xúc động trong giọng điệu : Trở lại Tây Bắc là trở về cội nguồn tình thương nguồn sống dào dạt bất tận ( như nai về suối cũ như cỏ non như chim én đón xuân về như trẻ thơ đói lòng gặp sữa mẹ …) Những hình ảnh này đều rất gần gũi với đời sống rất gợi cảm tạo ra một điểm nhấn rất sâu trong ý thơ. Đó là quy luật tất yếu về mối quan hệ thiêng liêng giữa cá nhân và cộng đồng giữa con người và cuộc sống.
Trong các biện pháp chuyển nghĩa dựa trên mối liên tưởng tương đồng các nhà nghiên cứu thi pháp thơ đặc biệt chú ý đến biện pháp ẩn dụ vì với ẩn dụ thông điệp thẩm mĩ vừa được truyền đi một cách kín đáo vừa giàu sức gợi. Mặt khác do được sử dụng khá rộng rãi nên ẩn dụ cũng thuộc loại hình thể từ ngữ biểu thị đặc trưng của phong cách thời đại phong cách dân tộc phong cách tác giả. Ca dao Việt Nam xưa thường lấy những hình ảnh quen thuộc của cuộc sống làng quê làm ẩn dụ. Trong tập thơ Từ ấy Tố Hữu thường sử dụng những hình ảnh thiên nhiên tươi sáng đẹp đẽ ấm áp như nắng hạ mặt trời tắm nắng xuân hồng trời hồng buổi xuân đào làm ẩn dụ. Những ẩn dụ này biểu thị lòng khát khao mãnh liệt với lí tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đối với người tiếp nhận ẩn dụ kích thích sự đồng sáng tạo của họ trong giải mã thông điệp thẩm mĩ.
Cùng viết về tình yêu đôi lứa văn học Việt Nam đã sáng tạo ra biết bao cặp biểu tượng đẹp dựa trên phép ẩn dụ: Thuyền ( Nam) / Bến ( Nữ) trong ca dao; Bến (Nam)/ Thuyền ( Nữ) trong thơ Chế Lan Viên; Biển / Bờ trong thơ Xuân Diệu Thuyền / Biển Sóng / Bờ trong thơ Xuân Quỳnh; Mây / Sóng trong thơ Xuân Mai ...Những tìm tòi đổi mới này tuyệt đối không chỉ thể hiện thuần túy trên phương diện hình thức mà là ở bề sâu của nó là sự thể hiện một quan niệm một tư tưởng thẩm mĩ một sự trải nghiêm kinh nghiệm:
Thật vậy với cặp hình ảnh ẩn dụ thuyền ( nam)/ biển (nữ) trong hai câu thơ sau:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông dường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu!
( Xuân Quỳnh- Thuyền và biển)
thì biển nâng đỡ thuyền thuyền khám phá biển hình thành một quan hệ tương hỗ hai chiều

LBD

2. 2.2 – Tính hình ảnh của lời thơ :
2.2.2.1- “ Tiểu thuyết nói bằng nhân vật thơ nói bằng hình ảnh” (Chàng Văn). Hình ảnh thơ là hình ảnh có tính tạo hình – biểu cảm cao độ. Hình ảnh là những cái gì cụ thể sinh động qua đường nét màu sắc âm thanh ánh sáng … Hình ảnh trong thơ bao gồm hình ảnh thiên nhiên cuộc sống con người hình ảnh tâm trạng hình ảnh suy nghĩ…. Nhà thơ tưởng tượng tái tạo nó bằng từ ngữ âm thanh nhịp điệu của thơ . Xét về cấp độ có thể phân biệt hai loại hình ảnh: Hình ảnh –tổng thể và hình ảnh- bộ phận.
Hình ảnh – tổng thể hay còn gọi là hình tượng- tứ là loại hình tượng lớn quán xuyến toàn bộ bài thơ trở thành “nhân vật trung tâm” của bài thơ thể hiện trực tiếp tứ thơ (cảm xúc thơ ý tưởng thơ). “Núi Tản như con gà cổ đại” là hình tượng tứ của bài thơ Trên cánh đồng Ba vì được mùa của Huy Cận. Ông đồ trong dòng chảy thời gian là hình tượng- tứ của bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên. Con sông dài rộng miên man chảy giữa đất trời cuộc đời là hình tượng – tứ của Tràng Giang ( Huy Cận) …
Hình ảnh- bộ phận là những chi tiết có hình ảnh trong suốt bài thơ. Nó tạo ra tính cụ thể sinh động cho hình tượng-tứ đem lại sức gợi cảm lớn có khả năng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa trong những dòng thơ ngắn gọn hàm súc. Những đợt sóng vô hồi vô hạn con thuyền hờ hững củi một cành khô luân lạc những hàng bèo xanh trôi xuôi những bờ xanh bãi vàng … là những hình ảnh góp phần làm nên tứ thơ Tràng giang.
Hình ảnh thơ là một yếu tố quan trọng của thơ. Nếu thiếu hình ảnh ý thơ thường chung chung trừu tượng nhạt nhòa giá trị thẩm mĩ. Thi trung hữu họa là một mệnh đề quen thuộc xưa nay. Yêu cầu hình ảnh thơ phải mới lạ và độc đáo thể hiện hiệu quả nhất tình ý của nhà thơ đem đến cho nhận thức cảm nhận một cái gì mới mẻ mà nói như Nguyễn Tuân “Thơ là mở ra được một cái gì mà trước câu thơ đó trước nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín”[ 28 172] .Mới lạ và độc đáo lời thơ thể hiện tính sáng tạo của nhà thơ cũng là công phu lao động thơ . Nhiều câu thơ làm tổ trong trí nhớ độc giả là những câu thơ như thế:
-“ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng ( Nguyễn Du- Truyện Kiều)
- “Nằm nghiêng trong kháng chiến trường kì
- Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp ( Hoàng Cầm – Bên kia sông Đuống)
Chế Lan Viên là nhà thơ rất đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh. Hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên được sáng tạo trong một trường liên tưởng rất mạnh dựa trên quan hệ đối lập:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” ( Tiếng hát con tàu)

Hình ảnh thơ nên gợi hơn là tả. Hình ảnh thơ mở ra một khung cảnh nhưng qua khung cảnh ấy chủ yếu dẫn người đọc tiếp cận với tâm tư nhà thơ. Những câu thơ hay những hình ảnh có sức sống trong thơ xưa nay thường rất giàu sức gợi:
-Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước
Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây
-Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tuế lưu
( Lí Bạch)
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân ( Xuân Diệu)
Những câu thơ như thế thật khớp với quan niệm của nhà thơ Lưu Trọng Lư: “ Thơ là sự sống tập trung cao độ là cái cốt lõi của cuộc sống. Phải đào phải xới phải chắt lọc mới ra thơ được…Sự sống phải ủ thành men và bốc lên trong tâm hồn thi sĩ. Có nhiều bài thơ mà hầu như tác giả muốn vét cho sạch nói cho cùng hết nước hết cái bật gốc trơ rễ. Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi. Nguyễn Du không cạn lời tả ít mà gợi nhiều chỉ hé ra một chút mà hiện lên cả một thế giới. Thi sĩ nhiều khi chỉ mở ra mà người đọc góp phần đóng lại” [29 ;50]
2.2.2.2- Nhà thơ xây dựng hình ảnh bằng cách nào? Trước hết là nhờ vào tài quan sát nhưng không giống sự quan sát của nhà khoa học. Nhà khoa học quan sát cả quá trình nhà thơ phải chộp được cái khoảnh khắc ấn tượng nhất. Về điểm này nhà thơ giống nghệ sĩ nhiếp ảnh...
Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả liên vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì
( Huyền Quang)
Nhà thơ – thiền sư đời Trần không chỉ nhìn thấy hình ảnh người đẹp ngồi thêu chim hoàng ly hót dưới những chùm hoa tử kính mà còn bắt được cái khoảnh khắc của phút dừng kim không nói năng và rất có lí rất thơ khi nghĩ về đối tượng đang bị lôi cuốn bỡi cái ý thương xuân vô hạn.
Khoảng năm trăm năm sau cái khoảnh khắc “vô ngôn” của “ ít nhiều thiếu nữ” lại trở thành khổ kết hay của một nhà thơ “ mới nhất trong các nhà thơ Mới”:
Mây vẩn tầng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia li
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì
( Xuân Diệu – Đây mùa thu tới)

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'7375','snde91mpa8655o8364jvvo9p54','0','Guest','0','54.156.85.167','2018-08-16 00:26:39','/a121882/tho-va-dac-trung-cua-tho.html')